
Hà Nội thời hiện đại
Nhiều trí thức Việt Nam sang thăm Nhật Bản, Hàn Quốc…về nước thường bức xúc đặt câu hỏi: Tại sao họ phát triển như vậy, họ hơn ta những gì?
Ba tiền đề để xây dựng hệ thống cơ chế chất lượng cao
Một là, bảo đảm tính dân chủ trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách. Lãnh đạo chính trị quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định nhưng phải trên cơ sở bàn bạc rộng rãi giữa các chuyên gia, giới ngôn luận và các thành phần khác của xã hội.
"Tham gia" là một thuật ngữ được các nghiên cứu về cơ chế nhấn mạnh và nghiên cứu thực chứng cho thấy chiến lược, chính sách về các vấn đề phát triển nếu có sự tham gia của các thành phần xã hội liên hệ đều mang lại hiệu quả cao.
Ngay cả những dự án nhỏ trong viện trợ (như xây đường, xây cầu), hiệu quả và tính bền vững cũng được bảo đảm nếu có sự tham gia của cư dân liên hệ trong quá trình thiết kế, thực thi dự án. Cơ chế bảo đảm tham gia (participatory institutions) có chức năng ngăn ngừa những quyết định, những chính sách phục vụ các nhóm lợi ích, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước, của đông đảo dân chúng.
Hai là, ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trị không bị chính trị chi phối. Chính trị gia không đưa ra kết luận trước để giới chuyên gia phải tìm cách chứng minh kết luận đó mà quy trình phải ngược lại, chuyên gia, giới kỹ trị phải được tự do nghiên cứu, phân tích và đề xuất chính sách, chiến lược; lãnh đạo chính trị sẽ cân nhắc, chọn lựa chính sách, chiến lược và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa đó.
Thứ ba, phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quá trình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả. Chế độ thi tuyển công khai, nghiêm minh và chế độ đãi ngộ thỏa đáng là điều kiện để có đội ngũ quan chức vừa có năng lực vừa cảm nhận được sứ mạng cao cả của mình và tránh được tệ nạn tham nhũng.
Gần 15 năm trước đây, tôi đã đưa kiến nghị là nhà nước nên chọn một ngày trong năm làm ngày thi tuyển nhân tài ra làm việc nước. Những môn thi cơ bản liên quan đến văn hóa, triết học, lịch sử, luật pháp và hành chánh vì những quan chức sẽ giữ vai trò lãnh đạo trong tương lai phải am hiểu về các lãnh vực đó. Một khi đã có một trình độ nhất định về các mặt cơ bản đó, họ có thể học thêm về các chuyên ngành cần thiết khi được phân bổ vào công việc cụ thể.
Ở những nước như Nhật và Hàn Quốc, những người tốt nghiệp loại xuất sắc tại các đại học danh tiếng, phải học thêm về các môn nói trên, mới có thể thi đỗ được vào các kỳ thi tuyển quan chức nhà nước.
Hai nội dung cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược
Về cơ chế, chính sách cụ thể trước mắt có lẽ hai vấn đề sau đây cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược:
Thứ nhất, cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệm tiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Như mọi người đã thấy khu vực này ngày càng phình ra, đầu tư lung tung vào mọi ngành, nhất là trong đó không ít những dự án có tính cách đầu cơ. Hành động của khu vực này trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay.
Cần minh bạch hóa tài chính, có cơ chế kiểm soát tài chính, thẩm tra các dự án đầu tư của khu vực này. Thiết lập cơ chế thống quản doanh nghiệp (corporate governance) trong đó xác lập mục tiêu hoạt động của công ty, có cơ chế kiểm soát, đánh giá thành quả của công ty và ban giám đốc phải chịu sự thưởng phạt (kể cả bị cách chức) về thành quả này.
Ngoài ra, trừ những ngành cung cấp dịch vụ công cộng, doanh nghiệp nhà nước phải từng bước tư nhân hóa, cổ phần hóa; trong lúc chưa cổ phần hóa cũng phải hoạt động theo cơ chế thị trường, chịu sự hạn chế khắt khe của ngân sách (hard budget constraint), nghĩa là không được ưu đãi đặc biệt về đất đai và vốn, và không được bù lỗ khi làm ăn thua lỗ.
Thứ hai, như trên đã nói, cơ chế trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, giai đoạn cải cách tiệm tiến rất đơn giản vì chủ yếu chỉ cởi trói các ràng buộc, hành lang pháp lý cũng không phức tạp, nhưng để phát triển bền vững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh động (như đã đề cập ở Kỳ I) để ngày càng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn.
Ở đây, chính sách công nghiệp phải được chú trọng và nghệ thuật tạo một quan hệ hiệu quả giữa nhà nước và doanh nghiệp là tiền đề của sự thành công. Kinh nghiệm của Hàn Quốc (nói ở Kỳ II) về điểm này rất đáng tham khảo.
Ba tiền đề và hai chính sách cụ thể trên đây là nội dung của cơ chế chất lượng cao cần thiết để VN bước vào giai đoạn phát triển ổn định, bền vững, đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triểन nhanh
Ba tiền đề để xây dựng hệ thống cơ chế chất lượng cao
Một là, bảo đảm tính dân chủ trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách. Lãnh đạo chính trị quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định nhưng phải trên cơ sở bàn bạc rộng rãi giữa các chuyên gia, giới ngôn luận và các thành phần khác của xã hội.
"Tham gia" là một thuật ngữ được các nghiên cứu về cơ chế nhấn mạnh và nghiên cứu thực chứng cho thấy chiến lược, chính sách về các vấn đề phát triển nếu có sự tham gia của các thành phần xã hội liên hệ đều mang lại hiệu quả cao.
Ngay cả những dự án nhỏ trong viện trợ (như xây đường, xây cầu), hiệu quả và tính bền vững cũng được bảo đảm nếu có sự tham gia của cư dân liên hệ trong quá trình thiết kế, thực thi dự án. Cơ chế bảo đảm tham gia (participatory institutions) có chức năng ngăn ngừa những quyết định, những chính sách phục vụ các nhóm lợi ích, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước, của đông đảo dân chúng.
Hai là, ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trị không bị chính trị chi phối. Chính trị gia không đưa ra kết luận trước để giới chuyên gia phải tìm cách chứng minh kết luận đó mà quy trình phải ngược lại, chuyên gia, giới kỹ trị phải được tự do nghiên cứu, phân tích và đề xuất chính sách, chiến lược; lãnh đạo chính trị sẽ cân nhắc, chọn lựa chính sách, chiến lược và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa đó.
Thứ ba, phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quá trình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả. Chế độ thi tuyển công khai, nghiêm minh và chế độ đãi ngộ thỏa đáng là điều kiện để có đội ngũ quan chức vừa có năng lực vừa cảm nhận được sứ mạng cao cả của mình và tránh được tệ nạn tham nhũng.
Gần 15 năm trước đây, tôi đã đưa kiến nghị là nhà nước nên chọn một ngày trong năm làm ngày thi tuyển nhân tài ra làm việc nước. Những môn thi cơ bản liên quan đến văn hóa, triết học, lịch sử, luật pháp và hành chánh vì những quan chức sẽ giữ vai trò lãnh đạo trong tương lai phải am hiểu về các lãnh vực đó. Một khi đã có một trình độ nhất định về các mặt cơ bản đó, họ có thể học thêm về các chuyên ngành cần thiết khi được phân bổ vào công việc cụ thể.
Ở những nước như Nhật và Hàn Quốc, những người tốt nghiệp loại xuất sắc tại các đại học danh tiếng, phải học thêm về các môn nói trên, mới có thể thi đỗ được vào các kỳ thi tuyển quan chức nhà nước.
Hai nội dung cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược
Về cơ chế, chính sách cụ thể trước mắt có lẽ hai vấn đề sau đây cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược:
Thứ nhất, cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệm tiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Như mọi người đã thấy khu vực này ngày càng phình ra, đầu tư lung tung vào mọi ngành, nhất là trong đó không ít những dự án có tính cách đầu cơ. Hành động của khu vực này trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay.
Cần minh bạch hóa tài chính, có cơ chế kiểm soát tài chính, thẩm tra các dự án đầu tư của khu vực này. Thiết lập cơ chế thống quản doanh nghiệp (corporate governance) trong đó xác lập mục tiêu hoạt động của công ty, có cơ chế kiểm soát, đánh giá thành quả của công ty và ban giám đốc phải chịu sự thưởng phạt (kể cả bị cách chức) về thành quả này.
Ngoài ra, trừ những ngành cung cấp dịch vụ công cộng, doanh nghiệp nhà nước phải từng bước tư nhân hóa, cổ phần hóa; trong lúc chưa cổ phần hóa cũng phải hoạt động theo cơ chế thị trường, chịu sự hạn chế khắt khe của ngân sách (hard budget constraint), nghĩa là không được ưu đãi đặc biệt về đất đai và vốn, và không được bù lỗ khi làm ăn thua lỗ.
Thứ hai, như trên đã nói, cơ chế trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, giai đoạn cải cách tiệm tiến rất đơn giản vì chủ yếu chỉ cởi trói các ràng buộc, hành lang pháp lý cũng không phức tạp, nhưng để phát triển bền vững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh động (như đã đề cập ở Kỳ I) để ngày càng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn.
Ở đây, chính sách công nghiệp phải được chú trọng và nghệ thuật tạo một quan hệ hiệu quả giữa nhà nước và doanh nghiệp là tiền đề của sự thành công. Kinh nghiệm của Hàn Quốc (nói ở Kỳ II) về điểm này rất đáng tham khảo.
Ba tiền đề và hai chính sách cụ thể trên đây là nội dung của cơ chế chất lượng cao cần thiết để VN bước vào giai đoạn phát triển ổn định, bền vững, đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triểन nhanh

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét